top of page

Một đêm diệu kỳ của Dolly Parton

  • Jun 28
  • 12 min read

Khi Dolly Parton tỉnh dậy cũng là lúc kim đồng hồ chỉ 3h sáng. Như một chiếc đồng hồ sinh học, Dolly không bao giờ phải đặt chuông báo thức. Cô thường đi ngủ sớm vào mỗi tối, nhưng kể cả vào những hôm thức khuya, Dolly vẫn mở mắt đúng 3h. Cái gen trong gia đình Parton cho phép cô nạp đủ năng lượng với những giấc ngủ ngắn hơn người bình thường. Vào cái giờ đó, với người khác vẫn là khoảng thời gian đủ để dành cho những giấc ngủ sâu, còn với Dolly, cô hoàn toàn tỉnh táo để bắt đầu sớm một ngày mới bằng một thói quen không thể bỏ được.


Viết nhạc!



Ngồi một góc quen thuộc trên chiếc ghế sofa, Dolly co hai chân lên ghế và ngâm nga những phần lời và nhạc chợt nảy đến trong đầu. Nếu như Dolly không cần những giấc ngủ dài để tái tạo năng lượng nhờ đặc tính di truyền trong gia đình, thì nguồn cảm hứng vô tận để sáng tác các ca khúc vào mọi thời điểm chính là biệt tài hiếm có của mình Dolly Parton.


Từ nhỏ Dolly đã có thể tự dựng nên các câu chuyện của riêng mình. Khi đôi mắt bắt gặp những dòng chữ trong một cuốn sách hay đôi tai nghe được một sự việc xung quanh, câu hỏi luôn nảy lên trong đầu cô là “Việc gì sẽ xảy đến tiếp theo?”. Và thế là Dolly sẽ tự viết tiếp câu chuyện đó bằng trí tưởng tượng của mình qua những vần thơ. Để viết lời, khả năng ghép các từ để chúng tạo nên các âm vần đã là biệt tài của Dolly từ ngày bé. Từ những tiếng động phát ra trong bếp khi bà mẹ chuẩn bị bữa ăn cho cả nhà, Dolly sẽ vớ ngay cái thìa rồi gõ lên cái nồi và hát ngẫu hứng các vần thơ đang hiện ra trong đầu. Để tạo những âm thanh có tính nhạc, cô tìm đến bất kỳ thứ gì có thể biến thành một loại nhạc cụ để cho phép Dolly sáng tác ra giai điệu. Đó có thể là cây đàn piano cũ nát trong một nhà thờ cổ. Rồi đó có thể là cây đàn mandolin mà chiếc cần đàn đã gãy, nay được Dolly nhờ ông bác làm thợ mộc gắn một tấm gỗ bên dưới để cô căng những sơi dây đàn vòng qua đó. Tiếng dây đàn rung lên thô kệch là đủ để Dolly hát vang các câu hát giai điệu tự chế.


Bởi vậy khi lớn lên, Dolly luôn mang theo mình cuốn sổ nhỏ hay chiếc máy ghi âm, hoặc nếu được là cả cây guitar đeo trên người. Một khi Dolly tập trung cao độ để sáng tác, cô có thể làm điều đó ở bất kỳ nơi đâu, vào bất kỳ thời gian nào, bất chấp những âm thanh hay sự việc đang xảy ra xung quanh. Đã có lần Dolly viết được đến 20 bài trong một ngày. Kết quả là trong cả cuộc đời mình, Dolly ước tính số ca khúc cô sáng tác phải lên tới 3000 bài, với khoảng 450 bài trong số đó đã được thu âm.


Vậy nên còn gì bằng khi Dolly được ngồi một mình trên chiếc ghế sofa cạnh lò sưởi trong ngôi nhà thân thương của mình để viết lời và nhạc trong không gian tĩnh lặng khi bình minh còn chưa tỉnh giấc.

 

***

Dolly bỗng nhớ lại trong một lần đi diễn, như thường lệ cô sẽ nán lại để ký tặng các fan. Trong đám đông có một cô gái mới tiến tới sân khấu và nói “Chị ký cho em kèm dòng chữ “Gửi Jolene” được không ạ?”. Dolly đáp lại: “Ồ đó là một cái tên thật đẹp”. Quá ấn tượng khi nghe cái tên Jolene, trên đường về, Dolly cứ lẩm nhẩm trong đầu “Jolene, Jolene, Jolene, Jolene” cho tới khi cô bước lên xe để ngồi xuống và viết xuống cuốn sổ. Vào lúc đó, cô đã tự nhủ đoạn đầu của bài hát sẽ phải có từng đấy chữ “Jolene” bởi đó chính là cách cô tự gợi nhớ cái tên này.


Đã nhiều lần những ký ức sống động lưu lại trong tâm trí của Dolly là nguồn cảm hứng cho việc sáng tác nên những ca khúc bất hủ. Giống như trong bản sáng tác “Coat Of Many Colors” mà cô tự hào nhất, nó được bắt nguồn từ câu chuyện có thật về tuổi thơ đầy khó khăn của gia đình Dolly.



Từ một cái hộp đựng đầy những mảnh vải nhỏ khác nhau, mẹ của Dolly đã may thành chiếc áo khoác đa sắc màu để cô có thể mặc đến trường với đầy ắp niềm hạnh phúc và tự hào, cũng như những kỷ niệm vui buồn. Dolly không dám cởi nó ra cả khi ngồi trong lớp học vì nhà cô không đủ tiền để mua thêm áo mặc bên trong, để rồi có lúc Dolly phải tìm cách trốn chạy khỏi đám học sinh trong lớp trêu trọc đòi xé chiếc áo duy nhất trên người cô. Vậy nên những ca từ trong “Coat Of Many Colors” được Dolly miêu tả đầy chân thực và tìm được sự đồng cảm của mọi người, kể cả với những ai không phải trải qua thời thơ ấu vất vả đó.


Jolene, Jolene, Jolene, Jolene


Ý tưởng nhắc lại cái tên “Jolene” tới 4 lần gợi mở cho Dolly một nhịp điệu mở đầu cho ca khúc mới. Nhưng tiếp theo sẽ là gì? Cô liền nghĩ ra một câu chuyện mà nhiều phụ nữ đều có thể tìm thấy sự đồng cảm trong đó.


I'm begging of you, please don't take my man

Jolene, Jolene, Jolene, Jolene

Please don't take him just because you can


Nhân vật Jolene trong câu chuyện mà Dolly viết ra này được lấy cảm hứng từ cô gái trẻ xinh đẹp với mái tóc đỏ - đồng nghiệp của Carl Dean, chồng của Dolly. Carl và cô gái đó làm cùng nhau tại một ngân hàng địa phương khi Dolly và Carl mới kết hôn. Chứng kiến những lần cô gái đó buông lời tán tỉnh với chồng mình, Dolly bèn viết nên những lời ca và gán cái tên rất kêu “Jolene” cho cô nàng đồng nghiệp đó.


Về phần lời, có thể thấy sự cuốn hút đặc biệt của ca khúc ở chính cái tên đối phương được nói đến và là từ được nhắc đi nhắc lại nhiều nhất trong bài, khác hẳn những ca khúc nhạc đồng quê “đánh ghen” khác như “Fist City” của Loretta Lynn hay “Before He Cheats” của Carrie Underwood. Tuy nhiên, nội dung của bài lại không phải để hạ thấp hay đe dọa đối phương như cách “đánh ghen” thường thấy. Thay vào đó, Dolly không giấu giếm sự ngưỡng mộ trước vẻ đẹp của Jolene và thừa nhận cô gái đó dư sức có thể cướp mất chồng cô.



Về phần nhạc, để tạo độ căng về giai điệu, 4 từ “Jolene” được hát nhắc lại tăng dần đều về cao độ, và để có độ ngân dài hơn cho cái tên “Jolene” khi được gọi lần thứ 4, một ô nhịp 2/4 ngắn hơn bình thường đươc đưa vào ngay trước để tạo bước đệm, và phần lời ca sau đó lại chạy dần đều xuống thấp trở về trạng thái cân bằng. Phía sau giai điệu đó, tiếng guitar thùng chơi bằng ngón tay được nhấn vào những nốt cao D# trong một bài có tông giọng C#m, tạo cảm giác chới với thiếu cân bằng, hệt như cảm xúc của Dolly đang thổn thức cầu xin cô gái Jolene đừng cướp mất hạnh phúc của mình. Không những vậy, giọng hát bè phía sau có những khoảnh khắc hát vào nốt A#, nốt nhạc không nằm trong gam C#m, chuyển khoảnh khắc đó sang âm giai Dorian mang màu sắc mê hoặc như chính cách Jolene đang định làm với người chồng của Dolly.


Ca khúc “Jolene” không hề có cấu trúc nhạc phức tạp cầu kỳ. Nhưng những yếu tố nhỏ tinh tế được thêm thắt ở trên lại làm cho câu chuyện càng trở nên chân thực. Chính bởi sự thu hút khó cưỡng qua phần nhạc, giai điệu và lời ca này mà “Jolene” trở thành ca khúc được nhiều người thu âm lại nhiều nhất của Dolly. Người ta ước tính bài này được cover khoảng hơn 400 lần, từ những bản thu bởi các ban nhạc mới lập đang tập nhạc trong những gara ở trước nhà, cho tới những band chơi Alternative Rock, từ những nhóm đồng ca nhí cho tới những bản chuyển thể sang các ngôn ngữ khác. Đáng chú ý nhất chắc hẳn là phiên bản của Olivia Newton-John, nhóm nhạc The White Stripes và gần đây nhất của Beyoncé được sử dụng trong album Cowboy Carter, với phần lời và hòa âm được thay đổi một phần đề phù hợp với nội dung mà Beyoncé muốn hướng tới.


***

Ôm cây đàn guitar gảy những nốt nhạc khác nhau, Dolly bỗng chợt nghĩ về thực tại và Porter Wagoner – người cộng sự đã dìu dắt cô trong giai đoạn đầu của sự nghiệp trong một mối quan hệ hợp tác đầy ngọt bùi lẫn cay đắng.


Porter Wagoner & Dolly Parton
Porter Wagoner & Dolly Parton

Dolly được Porter kéo về để thay thế nữ cộng sự cũ là Norma Jean trên show TV riêng của ông. Để Norma tuột khỏi chương trình là điều khó có thể chấp nhận được với Porter, đặc biệt khi cô này từng là bạn gái của ông nhưng nay từ bỏ Porter để đi lấy chồng. Thế nên Porter cần Dolly để thế chỗ và tìm mọi cách giữ chân và kiểm soát cô bạn diễn mới này. Với khán giả thân quen của chương trình, cũng phải mất vài buổi diễn để Dolly thể hiện tài năng và thuyết phục họ đón nhận cô. Và để làm việc cùng một kẻ bảo thủ như Porter cũng không phải là điều dễ dàng với người cứng đầu như Dolly. Cả hai người họ cùng nhau sáng tác, thu âm những bản hit song ca nhạc Country. Nhưng phía sau đó là sự áp đặt của Porter đối với Dolly trong định hướng hình ảnh và âm nhạc. Ông muốn cô phải ăn mặc kín đáo, không được thành điểm thu hút, trong khi Dolly thường đội bộ tóc giả màu vàng to uỵch gây chú ý trên sân khấu.


Sau quãng thời gian 7 năm chịu đựng sự kiểm soát của Porter, Dolly đòi chấm dứt hợp đồng hợp tác nhưng ông thẳng thừng từ chối. Porter gằn giọng: “Tôi là người giúp cô thành công”. Dolly liền quát lại: “Phải rồi, ông giúp tôi thành con điên”.


Từ những ngày bé đi hát ở nhà thờ, trong sâu thẳm Dolly đã luôn ước muốn trở thành một ngôi sao âm nhạc Country tự đứng trên đôi chân của riêng mình, chứ không phải vào vai một cô ca sĩ hát nhạc đồng quê trong nhóm nhạc gồm toàn cánh nam giới. Trước ghi gặp Porter Wagoner, Dolly bắt đầu sự nghiệp bằng nghề viết nhạc cho những nghệ sĩ khác như Hank Williams Jr., Bill Phillips, Kitty Wells. Đến khi có được hợp đồng ghi âm cho riêng mình, hãng đĩa của cô lại muốn Dolly hát thứ nhạc Bubblegum Pop cho đám tuổi tin, chứ không đồng ý để cô theo đuổi dòng nhạc Country. Âu cũng vì Dolly sở hữu chất giọng nữ cao với màu giọng quá trẻ, khác biệt và không phù hợp với những tiêu chuẩn mà người ta đã đóng khuôn với dòng nhạc Country “trưởng thành có phần già nua” này. Chỉ tới khi ca khúc “Put It Off Until Tomorrow” mà Dolly sáng tác cho Bill Phillips đạt vị trí cao trên bảng xếp hạng Country, thì hãng đĩa của cô mới nhận ra rằng thị trường âm nhạc lại đón nhận và yêu thích giọng hát bè nữ đầy trong sáng của Dolly trong bản thu âm này.



Kết quả là Dolly được trao cơ hội để thu âm và phát hành hai bản hit nhạc Country là “Dumb Blonde” và “Something Fishy” vào năm 1966, và được Porter Wagoner để mắt tới. Nói cho cùng, Porter đúng là người đã giới thiệu Dolly tới số đông khán giả yêu nhạc Country, nhưng thành công mà Dolly có được ít nhiều vẫn nhờ vào tài năng của chính cô.


If I should stay

I would only be in your way

So I'll go, but I know

I'll think of you each step of the way


Sau bao cuộc trao đổi và tranh luận bất thành với Porter để có được tự do theo đuổi sự nghiệp solo, trong cái đêm kỳ diệu đó, Dolly chợt nghĩ tới việc thuyết phục Porter bằng việc cô vẫn làm giỏi nhất. Đó chính là sáng tác ra một ca khúc!!!


Những kỷ niệm ngọt đắng khiến cô nghĩ tới đoạn lời “If I should stay / You’d only be in my way” (tạm dịch là “Nếu tôi vẫn còn ở lại / Thì ông sẽ chỉ càng ngáng đường tôi thôi”), nhưng lại được cô đổi thành “I would only be in your way” để làm dịu lời ca cô muốn nhắn nhủ tới Porter bởi thực ra mỗi người họ đều đang vô tình ngáng đường kẻ còn lại. Khi mà Porter luôn cố gắng kiểm soát người có cái tôi lớn như Dolly, thì cả ông lẫn cô đều là những kẻ thiệt thòi trong câu chuyện này.


Đó cũng là lý do những cơn tức giận bột phát của Dolly mỗi khi tranh đấu với Porter nay được cô ngẫm lại bằng con mắt vị tha và thấu hiểu hơn, thể hiện qua ca khúc chia tay đầy ngọt đắng như “I Will Always Love You”. Qua cây đàn guitar, cả nhạc và lời của bài được Dolly viết ra từ sâu thẳm đáy lòng, bằng những suy nghĩ, cảm xúc và kỷ niệm với Porter.


Ngay buổi sáng hôm đó, Dolly đã đi đến thẳng văn phòng của Porter và kéo ông vào để nghe sáng tác mới được viết dành riêng cho ông. Cô đã khóc rất nhiều khi sáng tác ra “I Will Always Love You” và Porter cũng không kìm được nước mắt khi được nghe ca khúc này, bởi hơn ai hết, ông hiểu được những tâm tư mà Dolly muốn nói với mình.



Đây là ca khúc hay nhất cô từng viết”. Porter thốt ra với Dolly. “Tôi sẽ để cô đi nếu cô cho tôi sản xuất ca khúc này”. Lẽ dĩ nhiên Dolly đã gật đầu cái rụp.


Ca khúc “I Will Always Love You” không chỉ giúp cô đạt được tâm nguyện, nó cũng giúp cải thiện mối quan hệ của cô với Porter kể từ đó.


Khi ca từ mà Dolly viết trong bài này mang một ý niệm chân thành, thì nhạc và giai điệu góp phần không hề nhỏ để chuyển tải cảm xúc đó tới không chỉ Porter, mà những người yêu nhạc trên khắp thế giới. “I Will Always Love You” không có cấu trúc hay vòng hòa âm cầu kỳ. Ngược lại, cách Dolly sáng tác giai điệu chạy trên những nốt nhạc liền cạnh nhau tạo cảm giác gần gũi và thân quen. Để gia tăng màu sắc, sự biến đổi hợp âm phía đằng sau giúp biến chuyển cảm xúc một cách hiệu quả. Hơn nữa, nếu nhìn kỹ vào các nốt giai điệu của đoạn verse, gần như phần lớn Dolly hát nhấn vào các nốt bậc 3 của hợp âm. Với nốt bậc 3 đóng vai trò xác định một hợp âm là trưởng hay thứ, việc dùng những nốt nhạc này vào giai điệu sẽ mang tới sự mềm mại, bộc lộ nhiều màu sắc cảm xúc nhất. Để rồi tới đoạn điệp khúc, Dolly đưa giai điệu lên dải nốt cao hơn và giai điệu lúc này lại nhấn vào chính nốt gốc của hợp âm tạo cảm giác cân bằng và vững chắc. Sự khác nhau trong cách viết giai điệu này giúp bài hát mang 2 sắc thái khác nhau, trong đó đoạn verse “If I…” mang một cảm giác bâng khuâng đầy suy tư của cô gái đang tìm cách nói ra mong muốn của mình, và đoạn điệp khúc là lời khẳng định về tình cảm mà cô dành cho người đàn ông đó “And I… will always love you”.


Bảo sao Porter Wagoner đã khóc khi nghe Dolly hát và đã có rất nhiều nghệ sĩ muốn cover ca khúc này. Ngay đến huyền thoại Elvis Presley cũng từng ngỏ ý muốn được thu âm nhưng chỉ vì tay quản lý tham lam của ông là Tom Parker yêu cầu Dolly phải chia một nửa tiền bản quyền sáng tác cho Elvis nên Dolly đã từ chối. Priscilla – người vợ cũ của Elvis Presley sau này cũng tiết lộ với Dolly rằng ông đã hát cho bà ca khúc “I Will Always Love You” sau khi hai người họ hoàn tất thủ tục ly hôn tại tòa.


Chính cách sáng tác không quá cầu kỳ, nhưng thiên về tình cảm chân thành được gửi gắm trong đó của Dolly đã tạo nhiều cơ hội sáng tạo cho những nghệ sĩ khác trong những bản cover về sau, đặc biệt trong phiên bản mà Whitney Houston thể hiện. Những nốt giai điệu liền cạnh nhau cho phép Whitney đưa phong cách luyến láy melisma lên một tầm cao mới, để hát những nốt nhạc mang cao trào cảm xúc bùng nổ cho “I Will Always Love You”.


***

Dolly lục trong những hộp thùng giấy ở trong kho để tìm những cuộn băng cassette cũ mà cô lưu trữ các bản ghi âm demo sáng tác ngày trước nhằm copy và lưu lại trong ổ cứng. Cô bất chợt bắt gặp một cuộn băng trong đó cả hai bài “Jolene” và “I Will Always Love You” được thu âm liền cạnh nhau. Hằng đêm Dolly đều ngồi trên chiếc ghế sofa để sáng tác ra vô vàn các ca khúc như một niềm vui và thói quen của mình. Nhưng chính cô cũng không ngờ có một đêm diệu kỳ để mình có thể viết ra liền hai tuyệt phẩm để đời như “Jolene” và “I Will Always Love You”.


Cả “Jolene” và “I Will Always Love You” đều mang theo những ký ức man mác buồn nhưng không gian căn phòng, chiếc ghế sofa và góc ngồi bên chiếc lò sưởi vào khung giờ chạng vạng lại mang tới cảm giác ấm áp và yên bình cho Dolly, để rồi sau khi cô có thể bộc bạch tâm tư qua hai bài hát đó, chúng càng giúp cô trút bỏ những muộn phiền và bắt đầu một ngày mới tươi sáng. Cũng phải thôi, sau khi Dolly Parton chính thức rời khỏi chương trình của người cộng sự Porter Wagoner, cô đã có được tự do để phát triển cho mình một sự nghiệp solo đỉnh cao, ghi dấu ấn một huyền thoại mà người ta phải gọi cô là Nữ Hoàng Nhạc Country.

 


Hẹn gặp lại!

 

Kroon

© 2018 by EmoodziK

bottom of page