Chuck Berry, Rock 'n' Roll và âm nhạc đa sắc tộc
- 1 day ago
- 12 min read
“Nói thật nhé, nhạc Rock hợp thị hiếu với đám thanh thiếu niên của thập niên 50 khi chúng còn đang mài đũng ở ghế nhà trường. Còn cái thời tôi đang đi học, âm nhạc của những dàn nhạc Big Band mới là niềm đam mê của tôi.”
Tay phóng viên sững người khi nghe Chuck Berry nói vậy. Hẳn một huyền thoại Rock 'n' Roll lại đang nói rằng ông ta sẽ cảm thấy hạnh phúc khi được dành cuộc đời để hát những bản ballad như Nat King Cole ư.
“Đúng vậy, đó sẽ là niềm hạnh phúc tột cùng. Tôi sẽ không cần phải dây dưa đến nhạc Rock 'n' Roll làm gì. Tôi xin lỗi…”
Và để tiếp tục gây thất vọng cho tay phóng viên với khuôn mặt đang thộn ra, Berry cười nói tiếp:
“Rock 'n' Roll đã đón nhận tôi và kiếm tiền cho tôi, mặc dù nhạc của Big Band mới là tình yêu đích thực… Tôi chọn con đường đó chỉ bởi vì tôi muốn có một căn nhà cho riêng mình. Tôi có gia đình của tôi và tôi cần phải nuôi cả nhà. Xin đừng bỏ qua vấn đề kinh tế ở đây. Không thể nào…”

Đoạn trên đây được trích dẫn từ bài phỏng vấn với Chuck Berry vào năm 1987 trên tạp chí Los Angeles Times. Con người ta thường kỳ vọng vào những câu chuyện thần kỳ đến từ những huyền thoại như Berry. Chứ sao, ông được lịch sử âm nhạc ghi nhận như “Cha đẻ của Rock and Roll” và bởi vậy hẳn nhiên ông nằm trong danh sách những nghệ sĩ đầu tiên được vinh danh trong Rock and Roll Hall of Fame vào năm 1986 vì công lao tạo nên nền tảng cho âm thanh cũng như phong cách trình diễn cho dòng chảy Rock 'n' Roll. Thế nhưng những giải thưởng như này lại chả có ý nghĩa gì với ông, nói chi đến những lời khen chê từ người nghe khi Berry thâm nhập thị trường âm nhạc vào những năm thập niên 50.
Đối với Chuck Berry, để vươn lên và mưu sinh tại đất nước Mỹ vào thời kỳ con người ta phải đấu tranh trong một xã hội đầy rẫy phân biệt chủng tộc mới là điều quan trọng. Vì nói cho cùng, Berry cũng không phải là nghệ sĩ da màu duy nhất phát minh ra Rock 'n' Roll. Cùng với ông có biết bao nghệ sĩ da màu tiên phong khác chơi thứ nhạc mang đậm chất ảnh hưởng Rock 'n' Roll. Chuck Berry chỉ khác họ ở chỗ, ông tựu đủ yếu tố tài năng và định hướng nhạc có thể lan tỏa đến cả người nghe da trắng lẫn da màu ngày đó.
HAI DÒNG CHẢY - HAI SẮC TỘC
Rock 'n' Roll về cơ bản có thể coi là kết quả hội tụ từ nhiều nhánh nhạc được phát triển và giao thoa giữa âm nhạc của hai sắc tộc, trong đó các nhạc cụ được người da trắng phát triển nên, còn cốt lõi về nhạc như nhịp điệu, cấu trúc và linh hồn lại phần lớn ảnh hưởng bởi lịch sử âm nhạc người da màu.
Ở phía cộng đồng người da màu, vào cuối thập niên 1920, Boogie Woogie được phát triển như một nhánh của nhạc Blues từ những năm 1870 bỗng trở nên phổ biến với nhịp điệu nhanh rộn ràng. Những nốt bass chơi trên đàn contrabass hay piano có tiết tấu đều đặn liên tục được người ta ví như âm thanh xình xịch của đoàn tàu đang chạy lại gần. Chính phong cách nhạc mang nhịp điệu nhanh rộn ràng đó đã giúp Boogie Woogie lan tỏa khi con người ta có thể vừa nghe vừa nhảy theo chúng. Bộ ba Boogie Woogie Trio bao gồm Albert Ammons, Pete Johnson, và Meade "Lux" Lewis là những nghệ sĩ tiêu biểu ngày đó.
Thế rồi đến thập niên 1940, Jump Blues xuất hiện, mang dáng dấp của nhạc Blues, Jazz, Gospel và Boogie Woogie. Chính bởi Jump Blues có được cấu trúc khung 12 ô nhịp của Blues, sự ngẫu hứng của Jazz, cách nhấn vào nhịp 2 và 4 trong khuông nhạc của Gospel và tiết tấu nhanh của Boogie Woogie, nhánh nhạc này đã là nền tảng cho thứ người ta đặt tên là Rhythm & Blues thời bấy giờ. Rhythm & Blues được phổ cập vào thập niên 1950, nhưng thay vì chú trọng chỉ vào trình diễn nhạc cụ như Jump Blues, vai trò của tiếng hát và lời ca được chú trọng hơn (dĩ nhiên dòng nhạc R&B mà chúng ta biết đến ngày nay là nhánh nhạc được biến chuyển chịu ảnh hưởng của Soul và Funk, khác xa với Rhythm & Blues ngày đó). Những nghệ sĩ tiêu biểu của Jump Blues và Rhythm & Blues thời đó chính là Louis Jordan, T-Bone Walker, Big Joe Turner, v.v.
Có điều Rhythm & Blues vẫn chỉ được coi là dòng nhạc của riêng người da màu, không phù hợp để bật trên radio cho người da trắng mặc dù ngày đó, một cộng đồng người da trắng đã biết và tìm đến để thưởng thức thứ nhạc Rhythm & Blues quyến rũ này.
Rồi, bước chân sang cộng đồng người da trắng tại Mỹ và quay ngược về cột mốc những năm 1920, âm nhạc Folk họ mang theo từ thời tổ tiên ở Ireland, Scotland và Anh Quốc dường như không đủ để thỏa mãn. Giống như những gì được miêu tả trong bộ phim Sinners phát hành năm 2025 của đạo diễn Ryan Coogler, những người da trắng sống tại những vùng nông thôn và vùng núi xa xôi phía Nam nước Mỹ, bị cuốn hút bởi thứ âm nhạc họ nghe được từ những người da màu sống gần họ, kết hợp thứ nhạc Blues, Swing và dĩ nhiên Folk để tạo ra nhánh nhạc Hillbilly, trước khi được đổi tên thành dòng nhạc Country vào những năm 1940. Âm giai nhạc Blues quyến rũ nay được thể hiện qua cách ngắt nghỉ câu nhạc của Country và các nhạc cụ đồng quê với âm thanh đanh sắc lanh lảnh của đàn banjo, mandolin và cả cây đàn guitar khi dây đàn được gảy gần về phía ngựa đàn (bridge).
Thế rồi đến đầu thập niên 1950, những nghệ sĩ nhạc Country bỗng nhiên khám phá ra nhịp điệu rộn ràng của Boogie Woogie và kết hợp lại tạo nên nhánh Rockabilly. Rockabilly về cơ bản được coi như phiên bản da trắng của Rhythm & Blues, với các nghệ sĩ tiêu biểu như Elvis Presley, Carl Perkins, Buddy Holly.
Và thế là cả Rhythm & Blues lẫn Rockabilly lúc ấy đã tiến gần sát đến dòng nhạc mang tên Rock 'n' Roll.
CHUCK BERRY VÀ SỢI DÂY CHIA CÁCH MÀU DA
Trong một đêm diễn tại Jacksonville, Florida vào năm 1955, trước khi cánh cửa được mở để khán giả bước vào, Chuck Berry chứng kiến bốn người trong đội bảo trì đi ra và dùng dây rèm cửa để vòng và buộc vào từng hàng ghế, ngăn 2 khu vực riêng giữa khán giả da trắng với khán giả da màu. Một khoảng trống ở lối đi chính giữa trở thành khu bất khả xâm phạm, không một ai được phép bước qua. Những buổi biểu diễn của các nghệ sĩ da màu thường có mặt cả vài chục cảnh sát mang theo súng và gậy. Đám cảnh sát còn đưa ra chỉ thị với những nghệ sĩ đó rằng họ chỉ được phép nhìn về phía khu khán giả da màu, còn tuyệt đối cấm liếc nhìn những người da trắng, đặc biệt là phái nữ, kể cả nếu đám đông đó đang vỗ tay ủng hộ nhiệt tình đến cỡ nào.
Trong bối cảnh một xã hội nước Mỹ phân biệt chủng tộc một cách nặng nề, âm nhạc của người da màu vẫn bị coi là thứ nhạc đường phố. Các đĩa nhạc bày bán ở cửa hàng của những nghệ sĩ da màu, bất kể nhánh nhạc gì đều được nhét chung ở quầy dành riêng cho “Race Music”. Rhythm and Blues cũng vậy.
Mặc cho luôn có những cộng đồng thanh niên da trắng bày tỏ sự thích thú với âm nhạc Rhythm & Blues, thứ nhạc này không bao giờ được phát rộng rãi trên các kênh radio dành cho người da trắng. Hiểu được điều đó, Chuck Berry mới đổi phong cách nhạc từ Rhythm & Blues sang Rockabilly nhằm mục đích được phát sóng rộng rãi hơn.
Ngay từ nửa đầu thập niên 1950, bên cạnh nhạc Blues, Berry đã cùng band của ông thử nghiệm chơi thứ nhạc Hillbilly cho chính khán giả da màu, trong đó có bản "Ida Red" của Bon Wills. Sau vài lần bị cười nhạo, đám khán giả bắt đầu làm quen và thích thú với chính thứ nhạc của người da trắng. Dần dà các bản Hillbilly phối theo phong cách của Berry được ông diễn thường xuyên trong những địa điểm có cả khán giả của hai sắc tộc.
Vào năm 1955, trong một lần tới Chicago, Chuck Berry gặp được Muddy Waters, người đã giới thiệu ông với Leonard Chess của hãng Chess Records. Thường thì Chess rất thích thu âm các nhạc phẩm Blues của những nghệ sĩ da màu, nhưng lần này Chess lại đề nghị Berry chơi bài "Ida Red" - theo bản phối lại của Berry dưới cái tên "Maybellene".
Nếu như Sam Phillips, nhà sản xuất nhạc cho những huyền thoại như Elvis Presley, Carl Perkins, Johnny Cash và Howlin' Wolf, từng nói: "Nếu tôi tìm được tay da trắng nào có thể cảm và hát được nhạc như một gã da màu, tôi sẽ kiếm ngay được một triệu Đô" thì Leonard Chess cũng ngửi ngay ra mùi tiền với định hướng tương tự khi thấy tiềm năng ở Chuck Berry - một tay da màu có thể hát nhạc Hillbilly của người da trắng. Trên giai điệu của "Ida Red", Chess bảo Berry viết lại lời hát với chủ đề liên quan đến xe hơi và tình yêu của đám thanh thiếu niên để phù hợp xu thế giới trẻ. Về phần nhạc, nhịp điệu rộn ràng Boogie Woogie với các nốt móc đơn vang lên dập dình trên cây đàn bass (thay vì đàn contrabass hay dùng trong Rhythm & Blues), tiếng trống chơi tiết tấu nhanh nhấn mạnh vào nhịp 2 và 4 mỗi khuông nhạc chịu ảnh hưởng của Gospel, câu riff trên cây guitar điện (thay cho kèn saxophone thường xuất hiện trong Rhythm & Blues) làm nhạc cụ chủ đạo được Chuck Berry thể hiện điêu luyện song hành cùng nhạc cụ piano để tôn cho giai điệu mang màu sắc Country, bỗng dưng "Maybellene" trở thành nhạc phẩm kết hợp tuyệt hảo giữa Rhythm & Blues với Hillbilly / Country. "Maybellene" vì thế trở thành một trong những khuôn mẫu của nhạc Rock 'n' Roll thu hút cả đối tượng khán giả da trắng lẫn da màu, và nhanh chóng bán được 1 triệu bản chỉ trong vòng nửa năm sau khi phát hành.
Vậy tóm lại Rhythm & Blues của người da màu và Rockabilly của người da trắng thiếu yếu tố gì để hoàn thiện thành dòng nhạc Rock 'n' Roll? Thực ra thì hai dòng nhạc trên đều mang hình thái gần như đầy đủ của Rock 'n' Roll, nhưng nếu cố để tìm ra mảnh ghép còn thiếu thì có thể chỉ ra như sau. Với Rockabilly, âm hưởng Country vẫn còn rõ nét qua lối hát và nhịp điệu swing có phần trễ nải với nhịp 2 và 4, trong khi Rock 'n' Roll dồn dập và đập thẳng vào mặt những âm thanh chắc nịch về nhịp điệu trên các nhạc cụ. Còn nếu so Rock 'n' Roll với Rhythm & Blues, phần trống nay được chơi máu lửa hơn qua tiếng snare, cây đàn contrabass được thay bằng đàn bass điện để tăng độ chắc nịch cho nhịp điệu, và phần riff do bộ kèn hơi như saxophone được tăng độ thô ráp qua tiếng guitar điện mang đến sức nặng đầy nổi loạn mà dòng nhạc Rock luôn hướng tới.
Thế nhưng không thể không kể đến lối thể hiện đặc trưng của Chuck Berry trên cây guitar trong những bản thu âm Rock 'n' Roll như thế này. Những câu riff được ông nhấn và bend hai dây cao cùng một lúc và nối tiếp bởi các nốt ở dải âm trung phụ hoạ vào cuối khuông nhạc. Khác với lối chơi nhạc Blues truyền thống, khi tiếng guitar vang lên chậm rãi, chuyển tiếp các nốt một cách mượt mà, vang lên đay nghiến và nhiều phiền muộn, tiếng đàn của Chuck Berry khi nhấn thường gảy liền 2 dây cùng lúc trên tiết tấu nhanh, ngắt quãng giữa từng nốt để tạo âm sắc đanh gọn vang lên liên tục theo nhịp điệu rộn ràng, làm nên các câu riff kinh điển trong sách giáo khoa mà các rocker phải học thuộc lòng khi tập tành bước chân vào thế giới nhạc Rock. Berry còn đưa các câu solo vào đoạn bridge, biến cây guitar thành một "ca sĩ" thứ hai trong ban nhạc, làm tiền đề cho những cầm thủ phải học theo để mang các đoạn guitar solo không thể thiếu trong các bài nhạc của mình.
"Johnny B. Goode" - một bản hit khác mà Chuck Berry phát hành vào năm 1958 có câu riff ông chơi được copy từ bài "Ain't That Just Like A Woman" của Louis Jordan. Trong bản của Jordan, câu riff được thể hiện bằng tiếng kèn có độ dầy và sắc, nhưng ở bản thu âm bằng cây guitar, câu riff mỏng và thiếu lực bởi tay guitarist Carl Hogan do chỉ đánh trên một dây. Chính vì thế Berry cải tiến bằng tuyệt chiêu double stop khi chơi hai dây cùng lúc, tạo âm sắc khoẻ và dầy hơn hẳn, kết hợp những kỹ thuật chơi nốt láy và bend dây để làm nên một version của riêng ông, biến "Johnny B. Goode" trở thành bản thu âm Rock 'n' Roll kinh điển.
Nhưng phong cách đột phá của Chuck Berry còn vươn rộng tới cả nghệ thuật trình diễn. Ngoài sức hút của người nghệ sĩ vừa biết hát vừa biết chơi đàn điệu nghệ, những động tác trình diễn trên sân khấu của Berry có thể khuấy động cả đám đông để họ cùng quẩy theo nhạc và nhịp điệu nhún nhảy đôi chân của ông. Đặc biệt chiêu "duck walk" (tạm dịch là "vịt dạo") mà Berry khuỳnh hai chân xuống tiến về phía trước với cái đầu lúc lắc mãi trở thành biểu tượng của lịch sử Rock 'n' Roll.
Và Chuck Berry còn tính xa hơn cả việc cải tiến nhạc và phong cách trình diễn. Thứ ông muốn hơn cả là đưa âm nhạc tới người nghe đa sắc tộc. Trong đoạn lời của "Johnny B. Goode", Berry đổi lời từ "colored boy" thành "country boy" để tăng độ phủ sóng cho single trên các kênh radio cho người da trắng. Lối hát của Berry cũng khác những đồng nghiệp da màu qua cách phát âm rõ ràng để ca từ được chuyển tải rõ nét và dễ hiểu cho số đông khán giả. Trong bài "Maybellene" được nhắc tới ở trên, Berry còn ngẫu hứng hát một vài đoạn theo giọng địa phương miền Nam. Bảo sao đã có lần ông bị cấm diễn ngay cửa sân khấu khi ban tổ chức phát hiện ra rằng kẻ hát ca khúc "Maybellene" lại là một gã gốc Phi.
Chuck Berry chưa bao giờ có cảm xúc bực bội khi bị người khác phân biệt và coi thường. Bản năng sinh tồn, vươn lên để sinh tồn trong xã hội Mỹ ngày đó còn thúc đẩy ông theo đuổi các khoá học kinh doanh, kế toán. Ông đầu tư vào bất động sản và tự quản lý tài chính cho riêng mình. Thế nên những tri thức mà Berry tiếp thu lại giúp ông có cái nhìn xa và nhanh nhạy. Như một nhà kinh doanh thực thụ, Berry muốn âm nhạc của mình đến với số lượng người nghe nhiều nhất có thể và không màng tới những đánh giá hay phân biệt đối xử. Ông không bận tâm tới một Elvis Presley có được sức hút vượt trội nhờ vào màu da. Ông cũng không so đo khi một ban nhạc như The Rolling Stones chơi nhạc của chính ông với tiền cát xê lên đến 50 nghìn đô trong khi Berry chỉ được trả 500 đô cho mỗi tối, vì ông biết rằng mình cũng sẽ kiếm được 50 nghìn đô sau 100 đêm diễn. Tất cả đều nhờ Berry luôn giữ cho mình những suy nghĩ tích cực.
Những nỗ lực kết hợp và giao thoa âm nhạc của người da màu và da trắng làm nên âm nhạc Rock 'n' Roll của Chuck Berry có thể đều quy về chuyện mưu sinh và kiếm tiền. Thứ nhạc Rock 'n' Roll có thể không phải do một mình Chuck Berry sáng tạo ra mà phải trải qua một quá trình nhiều thập kỷ và đóng góp xây dựng của nhiều nghệ sĩ, từ những người ảnh hưởng tới ông như T-Bone Walker, Louis Jordan, Muddy Waters cho đến những nghệ sĩ cùng lứa như Little Richard, Fats Domino. Nhưng vô hình trung, những nhạc phẩm thành công về thương mại của ông lại trở thành những khuôn mẫu Rock 'n' Roll hoàn chỉnh nhất cho không chỉ với người Mỹ mà cả đám ban nhạc thanh thiếu niên bên Anh như The Beatles, The Rolling Stones và Eric Clapton phải học theo.
Bởi thế sẽ không ngoa nếu nói rằng âm nhạc của Chuck Berry góp phần giúp châm ngòi cho làn sóng xâm nhập thị trường Mỹ của những nghệ sĩ / ban nhạc Anh Quốc vào thập niên 60, làm tiền đề cho sự phát triển như vũ bão của lịch sử nhạc Rock. Nhưng trên tất cả, âm nhạc của Chuck Berry đã giúp hàn gắn sự phân cách giữa hai sắc tộc. Người ta từng chứng kiến tại các show nhạc của những nghệ sĩ da màu như Chuck Berry có cả hội Klan tìm đến nghe để rồi ngay khi buổi diễn kết thúc, chúng lại trùm cái mũ lên đầu và ra về.
Hẹn gặp lại!
Kink



